Thursday, October 8, 2015

Những đêm xưa buồn lắm


Bút kí - Trần Hoài


 

 Trong những ký ức đến bây giờ vẫn còn in đậm trong tôi, thì những đêm ngày xưa, lũ bạn kéo nhau đi coi hát, coi văn công ngoài bãi thật êm đềm. Sau này nhớ lại, chính những đêm đó đã gieo vào tôi một ước vọng xa vời của thế giới khác. Để rồi từ đó, khi tôi đi đến những miền đất xa, bỗng dưng nhớ lại những đêm say mê với những tuồng tích xưa. Những nhân vật vừa hiện đại, vừa cổ xưa, đã cho chúng tôi nhìn thấy những chân trời xa mà vĩnh viễn, chúng tôi biết không bao giờ đến được. Trong những đêm ấy, trong tôi vẫn vang hoài dư vọng của tương lai một ngày mai nào đó... Đã có nhiều lúc tôi đứng tần ngần bên chiếc máy nổ phát điện 18KW, kỳ vọng về một miền đất tràn ngập ánh sáng; dưới ánh điện của bóng đèn dây tóc vonfram bảy mươi lăm oát treo trên cổng soát vé, và nền đất đỏ trắng phau một màu trắng của những tấm vé người vào cổng đã bị xé đôi, tả tơi. Tôi đã nhớ lại, có rất nhiều đêm không có tiền vào cổng xem hát, đứng ngoài hàng rào tre ken dày, ngước mắt thèm thuồng nhìn những đoàn người qua cổng, mà trong kia, ba hồi chuông mở màn réo rắt vang lên... 
Vẫn biết rằng, nếu cứ mang nỗi hoài niệm hoài hoài, thì rồi chẳng đi được đâu xa. Vẫn biết như thế, nhưng mà khổ quá, đã sinh ra để làm người, thì đôi khi những kỷ niệm chẳng đâu vào đâu lại cứ khắc ghi như một chế bản in offset điện tử, nó hằn lên rõ nét, mới tinh và rất chi tiết. 
Tôi có nhiều khi cứ tự nhủ mình phải làm một điều chi đó, và điều chi đó dù  không hiện hữu, không thể nắm bắt, mà cứ nén cho mình có một quyết tâm hư ảo. Thế nên thường là thất bại. Và rồi, ngồi một mình suy nghĩ, lại trách mình... Thuở ấy, có một thời gian tôi mơ được làm ca sỹ, hát xướng vô loài, lại có một thời gian mơ được làm nghề chiếu phim. Thế, lạ thế đấy! Dĩ nhiên ấy là những giấc mơ trẻ con. Dĩ nhiên là không thực hiện được. Nhưng rồi cuộc đời đã kéo tôi vào nghề viết lúc nào không hay! Tôi bước vào nghề viết không hề bất ngờ, cái nghề mà nói như nhà văn Xuân Đức, là "múc óc mình ra ăn dần". Phải, chính là múc óc chứ không phải là "vắt óc" như nhiều người thường nói! Có khi, sau một số tai nạn nghề nghiệp, tôi thường trầm tư suy nghĩ về chính bản thân con người mình. Thấy chao ôi là lẻ loi, trống trải. Đấy là những đêm khuya thanh vắng. Vẳng nghe tiếng còi tàu từ ga Vinh vọng đến. Thuốc lá đã hút điếu cuối cùng, chỉ còn một mình, cô độc khủng khiếp. Tưởng rằng có thể chết đi được...
Nhưng rồi sáng mai vẫn cứ thức dậy. Tôi vươn vai, nghe tiếng xương cốt cọ vào nhau răng rắc. Nắng sớm sưởi ấm, đôi mắt cay xè, bước thấp bước cao đến phòng làm việc, cười, nói, dạ thưa, có mặt. Đấy là một con người khác của tôi... Suy thật kỹ, thì chính là những lúc mình cô độc nhất, lại chính là đúng con người mình nhất.
Lại trở về những đêm xưa huyền diệu ấy. Vẫn suy lại, thì ra đó là quãng đời tôi sống đúng mình nhất. Nghĩa là tôi đã yêu người con gái đầu tiên trong đời, đến bây giờ tôi vẫn còn yêu. Mà có hay đâu, nàng không hề biết đến điều đó. Tôi ôm mối tình thơ dại, đi qua đã nhiều ngày tháng cuộc đời bầm dập. Tưởng trái tim mình chai đá? Nhưng không! Thỉnh thoảng lúc buồn, tôi vẫn nhớ về nàng, như để xoa dịu bớt chút đau khổ thường trực... trong tôi...
Thời tuổi trẻ tôi say mê đàn, hát. Anh Ngọc Phú, nhân viên Viện điều dưỡng Cửa Tùng, là người đầu tiên mang tiếng đàn, hát như của một nền văn minh xa xôi đến cái nơi heo hút, buồn bã tê người nơi tôi sống thời thơ ấu. Anh Phú ngày xưa học cực giỏi, từng đi thi học sinh giỏi Miền Bắc, cả hai môn toán, văn. Tóm lại, anh là người rất thông minh. Từ anh, tôi bắt đầu tiếp nhận, ghi vào trí óc những bài hát buồn, mà thời đó, tuy người ta không cấm nữa, nhưng mà vẫn còn ngại lắm. Anh Phú từng bị cơ quan phê bình về chính điều đó. Còn tôi, tôi được anh đàn, hát rất nhỏ cho nghe Thiên Thai, Cô Láng Giềng, Dư Âm, Hoài Cảm, Ai Về Sông Thương... Anh Phú mặc quần đùi, ngồi trước hiên nhà tập thể, ôm cây đàn guitar cũ, thầm thỉ hát như cho một người ở nơi nào xa lắm... Tôi, cũng mặc quần đùi, ngồi một bên, hơi chếch về đằng sau lắng nghe như nuốt từng âm thanh guitar classicque, nhận thấy cái dáng ngồi còm cõi của anh Phú in trên nền trời đêm màu xám ảm đạm dự báo một con đường chênh vênh. Tôi ngồi đằng sau để nhường cho anh Phú cả khoảng trời trước mặt và những cơn gió nồm bất tận, phóng khoáng đại dương vờn mái tóc bồng bềnh của anh. Sau mấy bản đàn "ruột", bao giờ anh Phú cũng quay lại, mỉm cười với tôi: "Muốn học đàn thì về bới cơm gạo sang đây, anh dạy cho!". Tôi biết, khi là sinh viên, cái sức học đặc biệt và những bản classicque của anh đã làm say mê nhiều thiếu nữ. Vậy mà đến khi đó, anh Phú vẫn cô độc... Tôi đọc được trong đôi mắt cận thị hai độ rưỡi của anh niềm khát khao được khám phá những chân trời mới, những dự định lớn lao quyết định đời người.
Và tôi nhớ nhất những ngày biển động, sóng lừng đục ngầu, chúng tôi, bọn trẻ và các nam thanh niên trong Viện điều dưỡng như muốn trầm mình trong những cảm giác mạnh, đã ra biển tắm! Ai chưa từng tắm biển vào ngày sóng to gió lớn, sẽ khó hiểu được cái mạnh mẽ của thiên nhiên và biết rõ cái điều người ta đã nói nhiều, rằng con người sao mà nhỏ nhoi, bé bỏng. Sóng cuốn xiết, nước chảy mạnh, bọt tung trắng xoá, chúng tôi lao đi cùng những cơn sóng lừng, lộn tùng phèo, quay tròn tít trong nước biển mặn chát. Một buổi tắm như một trận đánh lộn mà bọn trẻ chúng tôi thường tổ chức trên bãi cỏ chăn bò hoang vắng. Bây giờ, tôi đã nếm những văn minh thị thành, được tắm dưới vòi sen, trong bồn tắm với nước nóng, xài các loại dầu gội đầu, xà bông hảo hạng, vẫn thèm lắm những buổi tắm biển động, và những đêm tắm biển đêm Cửa Tùng xưa kia. Có lúc muốn bỏ bê tất cả để quay về trong một thời gian, đủ để nếm lại những kỷ niệm ngày xưa sót lại còn cất giữ đâu đó. Bãi chăn bò nay đã mọc lên một vài ngôi nhà nghỉ, kiến trúc kiểu Thái, kiểu Tây rực rỡ, uy nghiêm. Người dân Cửa Tùng vẫn kỳ vọng một sự thay đổi lớn lao trên quê hương mình. Đấy, nói một cách to tát là "sự hội nhập" với sự  phát triển kinh tế - xã hội của mọi miền bằng phương cách phát triển "ngành công nghiệp không khói" - du lịch. Thế nhưng, dù đã cố gắng rất lớn, nhưng do thiếu sự đầu tư của Nhà nước, thiếu quy hoạch một cách tổng thể vv... nên, du lịch Cửa Tùng mới chỉ là cái du lịch của cái anh nhà quê, thấy ngắn mà không thấy dài... Người ta về địa đạo Vịnh Mốc, chỉ ghé qua Cửa Tùng hứng một cơn gió mát lạnh của biển cả, rồi đi. Không kịp dừng lại nghe những vị có tuổi của làng kể cho nghe sự tích ngày xưa ở đây đã từng hiện diện bao nhiêu toà lâu đài, biệt thự của vua, quan và người Pháp thực dân, và sự tích cuộc chiến đấu thần thánh suốt mấy ngàn ngày quân dân Cửa Tùng cùng với cả Vĩnh Linh, Quảng Trị, cùng cả nước đánh trả giặc Mỹ...

Tôi đi xa, làm nghề viết, mỗi khi thấy lòng mình chùng xuống, muốn viết một cái gì đó thật êm đềm, lại nghĩ ngay đến Cửa Tùng... Cửa Tùng! Cửa Tùng... luôn vang dội trong tôi, đau đáu, hoài mong...
Lại kể đến những đêm xưa tôi nghe anh Phú đàn, anh Phú hát nhạc tiền chiến. Một lần vào Huế, tôi tình cờ nhặt được cuốn nhạc in rônêô xuất bản thời chế độ cũ ở Miền Nam, mang về, trao cho anh Phú. Anh mừng như bắt được vàng. Và từ đó, hai anh em và cây đàn guitar cũ, cuốn nhạc cũ, hai tâm hồn rộng mở trôi theo từng nốt nhạc. Những đêm khuya thanh vắng, hai anh em mở rộng cuốn nhạc dưới ánh đèn dầu hoả, anh Phú ôm đàn, xướng âm đô, rê, mi..., tôi lẩm nhẩm hát theo: đô, mi, rê... Rồi anh hát, thầm thỉ như cho một người xa lắm: 
 "Đêm qua mơ dáng em đang ôm đàn dìu muôn tiếng tơ,
Không gian trầm lắng như âu yếm ru ai trong giấc mơ...
Mái tóc nhẹ rung, trăng vờn làn sóng
Yêu ai, anh nắn cung đàn đầy vơi, đôi mắt xa xôi...
Anh yêu tiếng hát trong như lời nguyện, đẹp bao ước mơ
Anh như lầu vắng, em như ánh trăng gieo muôn ý thơ
Muốn nói cùng em đôi lời trìu mến...". 
Đấy là bài Dư âm của Nguyễn Văn Tý.
Tôi nghe, và trôi đi trong không gian âm nhạc tiền chiến bảng lảng, cổ xưa. Ánh đèn dầu hỏa hắt bóng hai anh em lên bức tường vôi vàng úa, loang lỗ những vết rêu xanh. Mùi ẩm mốc của căn phòng tập thể mười sáu mét vuông lan toả, đàn chuột đói kéo nhau sục sạo trên chiếc chạn bát độc thân của anh Phú... Nhưng vẫn vang lên tiếng đàn, và giọng hát bị kìm nén về âm lượng của chúng tôi. 
Và tới lúc, tôi đã thuộc khá nhiều bài hát tiền chiến từ anh Phú. Tôi tìm đọc  sách, báo cũ, biết được tiểu sử, cuộc đời của một số nhạc sỹ tiền chiến như Cung Tiến, Nguyễn Văn Thương, Phạm Duy... được anh Phú bổ sung thêm một số câu chuyện, giai thoại làng văn nghệ, mang đến trường kể với đám bạn bè trong lớp. Các bạn của tôi, đến lúc ấy vẫn chưa biết đến cái công tắc điện nó ra làm sao, trước những câu chuyện của tôi cóp nhặt được, hoàn toàn bị chinh phục... 
Nhưng tôi lại bị chinh phục bởi những con người khác. Dạo ấy, họa sỹ Lê Văn Nhường khi còn trong quân ngũ và các bạn bè trong Huế vẫn thường phóng xe máy vượt trăm cây số ra nhà tôi chơi. Hoạ sỹ và các bạn, cũng là những nghệ sỹ xách rượu xuống biển, trong những đêm trăng sáng trên cát mà uống say, nói chuyện trên trời, dưới biển. Tôi lúc này đã thành niên, đã uống được chút rượu, đã hút được thuốc lá, biết rít khói sâu và thở ra đằng mũi, lắng nghe từng câu chuyện của hoạ sỹ và mọi người với bao nhiều điều mới lạ. Một câu chuyện là một cái cửa sổ tôi nhìn vào cuộc đời. Thỉnh thoảng tôi vẫn đưa ra một vài ý kiến riêng về một vài vấn đề nào đó. Hoạ sỹ Lê Văn Nhường chỉ cười. Lê Văn Nhường khi ấy còn rất trẻ, nhưng từng đã trải qua chiến đấu ở chiến trường CPC, là người đã qua nơi hòn tên, mũi đạn, nên có những nét trầm tư, từng trải... Hay đó là phẩm chất của người nghệ sỹ? Mãi sau này có một đêm trở lại thăm hoạ sỹ ở đường Nguyễn Trung Đình, Huế, lúc này hoạ sỹ Lê Văn Nhường đã rời quân ngũ, đã bán được một số bức sơn dầu. Ngay trong đêm mưa Huế, tôi được hoạ sỹ đèo sang một galery bên Nam sông Hương để xem những bức siêu thực đẫm màu thời gian hoài niệm, tôi đã phát hiện ra có những vấn đề trình bày trên toan trắng nhưng hoạ sỹ đã kể bằng lời lâu rồi, trên bãi cát Cửa Tùng năm xưa... Hoạ sỹ nói, bản chất của nghệ thuật là sự hoài niệm không thôi, mãi mãi...Và tôi đã ghi vào trí nhớ hình dáng người hoạ sỹ gầy tóc bắt đầu điểm bạc, một mình người hoạ sỹ giữa căn phòng sang trọng, rộng rãi của galery đứng độc thoại với từng mảnh sơn dầu của chính mình. Tôi nghe tiếng nói của thời gian hoài niệm ẩn chứa, dồn nén  quay về chất vấn chính con người đã tạo nên chúng. Và người hoạ sỹ, không phải lúc nào cũng lý giải rõ ràng về sự tồn tại, hữu sinh, về sự thống nhất, tương quan tác phẩm và cuộc đời. 

*
Nhưng trước khi tôi về đứng trong galery của họa sỹ Lê Văn Nhường, trong đêm mưa rất Huế đó, là quãng thời gian đã xảy ra nhiều biến động.
 Những năm hai mươi tuổi... Tôi đã vương vào một mối tình không có bắt đầu, không có kết thúc. Ngày ấy, tôi và T. thường đạp xe từ Đông Hà về nhà ở Cửa Tùng. Mùa đông ngược gió mùa đông bắc, đạp xe ra; mùa hè ngược gió Lào rần rật khô cháy, đạp xe vào... Những năm ấy thật yêu đời và lãng mạn... Và sau mười năm, đến bây giờ, thì tình yêu tan vỡ, đã tan vỡ. Giờ, thỉnh thoảng gặp T., tôi vẫn làm bộ mặt nghiêm trang, lạnh lùng. Nhưng nàng thường nheo đôi mắt của một thời mộng ước: "T. chỉ yêu anh vì anh làm được thơ''. Ôi, thơ! Những bài thơ hoa niên vụng dại nhắc tôi quay lại 10 năm... Những bài thơ non nớt đầu tiên về tình yêu và cuộc sống đã dắt đưa tôi vào nghề viết nhọc nhằn. Nhưng ai biết đâu rằng chỉ có thơ là mối liên hệ mỏng manh duy nhất, là chứng cớ duy nhất, điều kiện cần và đủ cho duyên tình của chúng tôi? Nhưng thực ra sự tan vỡ đã xuất hiện mầm mống từ lâu, từ khi tôi quyết bỏ nhà vào Miền Nam tạo lập sự nghiệp, kiếm sống, những lá thư cứ thưa dần, ngắn dần không còn chen vào những câu thơ kiểu như "Sao em không để tóc dài. Để khi buồn anh về tựa vai..."của tôi tặng nàng nữa. Rồi thôi... Rồi sau đó, dĩ nhiên nàng đã lấy chồng, tôi có nghe tin, lòng chỉ vẩy lên một tí buồn... Và mịt mù luôn suốt mười năm, cho đến hôm rồi đây, trong Lễ hội 30 tháng Tư mừng Tổ quốc 25 năm hoà bình thống nhất, tôi, nàng đã gặp lại nhau. Nàng bế trên tay một chú bé đẹp như hoàng tử, nàng là cô giáo phụ trách Trại chi đoàn Trường X. Vĩnh Linh. Nàng vẫn giữ được nhan sắc thuở xưa, chỉ nét cười là có thêm phần mộng mị và dĩ nhiên, càng tăng thêm quyến rũ của người đàn bà ba mươi tuổi... Nhưng chú bé hoàng tử không phải con trai của nàng, đấy là con của em trai nàng. Vợ chồng nàng không hiểu vì lý do gì mà sau mười năm vẫn chưa có niềm vui... Trong đêm hoa đăng, thả đèn rực rỡ lễ hội sông Hiền Lương, qua những ánh nến lung linh, bóng nước lung linh của dòng sông lịch sử tôi vẫn nhận ra một nỗi khổ cực trĩu nặng trên đôi vai nhỏ nhắn, gầy guộc của nàng...
 Mười năm, một khoảng thời gian đủ để mỗi chúng tôi nguôi đi những  gì đáng quên. Nhưng đêm nay, cái đêm tràn ngập niềm vui hội ngộ này không chỉ tôi và nàng mà còn của bao nhiêu người thanh niên tuổi trẻ bên bờ sông lịch sử, hẳn sẽ khó quên được cái mốc thời gian đã một phần tư thế kỷ, từ một dòng sông tuyến âm thầm cam chịu cắt chia đến một dòng sông rực rỡ hào hoa, rộn rã tiếng hò đối đáp trên sông. Những người tuổi trẻ hôm nay chưa hề có một ngày đi qua chiến tranh nhưng cảm giác như đã trải qua nhiều truân chuyên trên vóc đời họ, ẩn sâu trong những dáng hình tuổi trẻ, trên những áng tóc dài xanh thiếu nữ, trên những bắp tay cuồn cuộn chàng trai đua thuyền... Vì sao? - Tôi hỏi T., Nàng không nói, im lặng. Đôi môi mím lại chỉ còn một đường chỉ hồng. Nàng đã trải qua nhiều đổ vỡ hạnh phúc ư? Hay nàng cũng như tôi, đã bắt đầu muốn luận giải về một điều chi đó của đời sống, dẫu rất mơ hồ, khó nắm bắt, vậy mà cứ tham vọng hiểu hết, biết hết, rạch ròi và minh chứng? Khi người ta bước sang tuổi ba mươi, rất dễ như vậy. Bởi vì ba mươi năm là khoảng thời gian chưa dài,nhưng cũng đủ kịp để ta qua nhiều trải nghiệm, đắng cay và hạnh phúc, người ta rất dễ đúng mà cũng rất dễ mắc sai lầm... Trong khi tôi và nàng đắm mình giữa những chữ nghĩa và bao uẩn khúc mình tự chuốc lấy thì một tiếng nói cất lên từ sau lưng: "Những cố nhân nay đã gặp nhau!". Quay lại, đấy chính là Ngọc, người bạn cũ của chúng tôi thuở học trò, cũng đã mười năm gặp lại. Ngọc làm việc ở phòng Tư pháp huyện. Câu chuyện chúng tôi Ngọc nghe được một phần, Ngọc đã hiểu và đã nói thêm thế này "Luôn có sự bàn giao trách nhiệm lịch sử giữa các thế hệ với nhau, đó là sự nối tiếp quy luật và, khi thế hệ này nhận lấy trọng trách của thế hệ trứơc chuyển giao lại, thì cũng nhận lấy những vinh quang, tự hào và những tủi cực, âu lo của lịch sử. Những thứ ấy là chất sống, là nền tảng để thế hệ tiếp sau phát triển, không trừ một dân tộc nào, thời đại nào. Với chúng ta, một thế hệ lớn lên sau chiến tranh, ở vùng đất đầu cầu giới tuyến ác liệt thì trọng trách ấy càng nặng nặng nề hơn, nặng lắm, tưởng như không thể mang nổi. Song chúng ta vẫn đã nhận, chúng ta vẫn đi, cùng với thế hệ trước. Cái khối cộng đồng ấy đi theo con đường đã vạch sẵn, đến một cái đích đã định sẵn, không thể khác được. Và hẳn nhiên, chúng ta cùng chung ước vọng, âu lo, thấp thỏm của thế hệ trước. Mà họ là người của cuộc chiến, đi ra từ cuộc chiến tranh hào hùng vừa qua, họ được ngợi ca. Và trong những hồi ức của họ vẫn ám ảnh bóng ma chết chóc, đau khổ, chia ly... Nhưng họ thật nhân ái, đã không trao cho chúng ta những thứ đó, họ chỉ cho chúng ta những gì đã thừa nhận, là cảm khái anh hùng và vinh dự, là những gì tròn trặn và ước mơ. Nhưng chúng ta với bản chất chia sẻ của loài người đã tự ám thị chính mình, lầm tưởng mình cũng đi ra từ những cuộc chiến tranh...".
"Vậy thì... chúng ta thật đáng thương!". Nàng thốt lên. Có lẽ bằng trực giác muôn đời của phụ nữ, nàng đã nhận ra một điều hệ trọng... Đêm về khuya se lạnh, sương đọng ướt trên bờ bê tông cầu Hiền Lương mới, gió nồm từ biển phả lên rười rượi. Dòng sông vẫn rực rỡ đèn hoa, nhưng chú bé hoàng tử đã ngủ từ bao giờ. Nàng bế cháu, u buồn và nhẫn nại. Chia tay nàng, Ngọc chở tôi về Cửa Tùng, nơi ấy có ngôi nhà thân yêu của tôi, nơi cách đây mười năm tôi đã ra đi. Nhà tôi nằm trên bờ đất đỏ ba-zan lấn ra biển, đêm nằm nghe tiếng sóng dội âm u từ phía Mũi Si đến Mũi Hàu, dập vào dưới chân đá Mụ Tạo thành một chuỗi liên tục, như bè âm thanh độc điệu bốn mùa.  Những đêm đầu tiên xa nhà, thiếu bè âm nhạc ấy thật là khó ngủ, nhưng bù lại tôi được nghe tiếng rầm rập rền vang của những đoàn tàu đêm chạy vào thành phố, quen dần đi, rồi trở nên thân thiết. Nó cũng trở thành một bè âm nhạc khác trong thính giác của tôi. Trong những đêm ấy, lúc đầu nó gợi cho tôi nhớ đến nàng, đến chuyến đi quay trở về vùng quê gió Lào cát trắng, để đến bên nàng thú tội... Tôi đã ở lại, cực nhọc, vất vả và tập quên dần nàng đi. Cùng với tiếng tàu đêm, tôi chập chững tập nghe nhạc Trịnh. Nhưng không giống tiếng tàu, âm nhạc của Trịnh vuốt ve tôi trong những buồn bã, nhắc tôi rằng thân phận của loài người thật mỏng manh, như là một hơi gió thoảng, như là một tia nắng, là ảo ảnh vô thực, là loài sâu ngủ yên trong tóc chiều. Lại nữa, âm nhạc thánh ca đó mở cho tôi một khung trời mới về tình yêu tuyệt diệu, điều mà tôi biết, sẽ không bao giờ nếm được, nhưng mà vẫn cứ ước ao... Một cô bé mù sát cạnh nhà trọ thường cho tôi mượn băng nhạc Trịnh Công Sơn. Cô bé từ khi sinh ra đã không nhìn thấy gì. Cuộc sống của cô là bóng đen vĩnh viễn, nhưng cô yêu Trịnh lắm, và yêu cả cuộc sống này. Má cô làm nghề bán vé số, cô cũng có một tủ  thuốc lá nhỏ kê trước hẻm, bán cho dân lao động trong phố. Cô thường mở nhạc Trịnh nghe, rồi ngồi bán từ sáng đến chiều. Những lúc không mở nhạc thì cô hát, hát thầm những tình khúc của Trịnh. Tôi ngạc nhiên lắm, cô bán như thế, làm sao để không nhầm lẫn? Nhiều lần hỏi cô như vậy, cô chỉ cười: "Bé quen rồi!". Từ đấy tôi nhận ra rằng cô bé thật dễ thương và có nét cười rất đẹp. Chúng tôi thường nói chuyện với nhau, là những người bạn, tôi lại được biết thêm những bạn bè của cô bé, là sinh viên, thợ học việc. Họ thường đến thăm cô và hồn nhiên coi tôi như một người trong họ. Lòng người miền Nam rộng mở, còn tôi luôn làm họ phá lên cười vì cái tiếng miền Trung nằng nặng khó nghe... Với tất cả như vậy, cùng với những biến cố trong suốt mười năm khiến tôi đã lãng quên bè sóng biển thân thiết. Cho đến khi Ngọc dừng xe, tắt máy trước sân nhà, tiếng sóng thân quen lại ùa về, dội ngược vào tâm trí, bao nhiêu kỷ niệm, ký ức bỗng thức giấc, xô tôi ngồi bệt xuống thềm...   

*
Phải mất một thời gian dài sau đó tôi mới quen được lại ngủ trong ngôi nhà của chính mình. Lại phải làm quen với tiếng sóng biển, và cố quên đi tiếng còi tàu. Vườn tiêu nhà tôi nay đã lên xanh tốt, từng chùm quả ra lúc lỉu. Trong đêm khuya, ra vườn, nhấp một hạt tiêu cay nồng, thấm lên đầu lưỡi vị đất đỏ ba-zan nồng ấm, mới hiểu sao ngày xưa, những bậc đế vương, quý tộc đã dùng hạt tiêu khô trộn vào hồ xây cho khuê phòng một hương vị cao sang, ngăn ngừa bệnh tật. Những tiểu thư khuê các, xiêm y lộng lẫy đã ngủ trong những khuê phòng như vậy, đã mơ những giấc mơ huyền thực, mộng ảo và xa lạ... Những người đã hoàn toàn chìm vào dĩ vãng, đến thời ông ngoại của tôi cũng chỉ nghe cố, cụ, kỵ kể lại trong những miền hồi ức mỏng tang, lúc nhớ, lúc quên. Như cái tiếng chuông nhà thờ Di Loan, An Ninh, Trường Dòng và bóng các o, chú, các ma-xơ trẻ tuổi, thỉnh thoảng lại quay về, thổn thức, hiện hữu trong tâm trí người giáo dân cũ nơi đây. Chiến tranh đã lộn nhào tất cả. Giờ, người dân Di Loan, xứ đạo Tùng Luật phiêu bạt khắp nơi, năm hết tết đến ai ăn nên làm ra thì về thăm lại cố hương, ô tô bóng lộn, nước hoa thơm lừng, áo quần phấp phới. Họ quay về, nhặt một mảnh gạch vụn nhà thờ Di Loan đã bị bom Mỹ đánh sập, chắp tay nguyện cầu, tưởng nhớ đến những năm tháng vàng phai... Rồi đi, rồi cuộc sống vẫn chẳng có gì thay đổi. Đồng lúa thơm, đồng muối trắng trước mặt làng Di Loan, bên ni bờ Hiền Lương vẫn tấp nập vào vụ... Lũ học sinh cấp 3 chúng tôi lao động xã hội chủ nghĩa, ở một khu vực bên sông, đào ao nuôi tôm, ra quân rầm rộ, trống giong, cờ mở. Phó bí thư đoàn trường phụ trách văn nghệ ngâm một bài thơ chẳng ăn nhập gì với không khí lao động sôi nổi, khẩn trương trên loa truyền thanh:  
"Anh không xứng là biển xanh,
nhưng anh muốn em là bờ cát trắng.
Bờ cát dài phẳng lặng,
 soi ánh nắng pha lê...".  
Chỉ vậy thôi mà đám trẻ chúng tôi chống cuốc, chống xẻng thẫn thờ, xúc động, tưởng có thể khóc được cho một mối tình tưởng tượng... Những mảng miếng kỷ niệm tôi kể ra đây chẳng có một ý nghĩa gì đáng kể... Vậy mà đôi lúc tôi cứ nghĩ, nếu như không có những cái không có gì đáng kể vớ vẩn đó, thì có khi mình sống khác đi được lắm chứ? Mình khác đi, có nghĩa là không có mình như bây giờ, không có những lúc ngồi triền miên trước bàn phím computer, gõ lạch xạch cho hiện lên những con chữ tròn trặn, nghiêm trang, đủ nét, đúng chính tả VnTime. Những con chữ đen màu đen nhức nhối đã được mã hoá bằng các bytes nhảy múa, chập chờn trước hai con mắt đã giảm thị lực của tôi... Và mười ngón tay lẽ ra phải gói thuốc nổ, phải cầm xà beng, thuốn dò mìn, quay máy điểm hoả của tôi vốn lẽ ra không thích hợp với computer, đã mỏi dừ, mổ lóc cóc như mười con chim sâu tội nghiệp trong buổi chiều mùa đông vắng lặng, chỉ có một mình tôi và nó, mười ngón tay mổ hoài, mổ hoài... Tiếng mổ lóc cóc không đều đặn dội vào không gian như chết lặng mà chỉ có mười con vật sống động duy nhất, đấy chính là mười ngón tay tôi. Đến lúc đó, tôi mới nhớ ra rằng mình đang thiếu một cái gì thiết tha lắm. Đấy là một tiếng classic thong thả giọt vào trái tim, cho trí óc loãng ra, rã rời, buông xuôi... Thấy càng gõ, càng đi vào bế tắc, không biết cách kết thúc một câu chuyện tôi đã lỡ kể ra... Tôi nhớ đến những đêm ngồi uống rượu cùng Y Thi, người bạn lớn của tôi, trên hè phố thị Đông Hà. Những câu chuyện của chúng tôi cũng thế, chẳng biết kết thúc ra sao và bao giờ cũng có một người, chỉ có một người thấm rượu đi liêu xiêu. Một đêm như vậy, sau khi đã nhừ rượu, chúng tôi lần theo bờ tường nhà hát trung tâm, đến hỏi chuyện hai đứa bé người Vân Kiều ở Hướng Hoá mồ côi lang bạt về kiếm ăn nơi phồn hoa thị xã. Hai đứa trú trong một hốc tối, xung quanh che bằng những giấy bao xi măng PC30, trên đầu là những dầm bê tông dọc ngang vững chãi của sàn sân khấu nhà hát... (Tôi nghĩ ngay đến có những đêm lễ hội đã diễn ra tấp nập, hào nhoáng, với những vũ nữ múa đẹp như tiên, những nghệ sỹ áo dài, comple cầm mi-cờ-rô hát những bài ca và nói với mọi người bao nhiêu điều lớn lao... ngay phía trên đầu của chúng, chỉ cách một lớp bê tông và một lớp cách âm). Có khách, hai đứa trẻ đốt lên một ngọn lửa rừng ấm áp. Và chúng tôi trò chuyện thật tình chứ chẳng phải như các nhà báo săm soi lấy tư liệu viết bài. Câu chuyện ra làm sao, nói thực giờ tôi không thể nhớ. Nhưng ngọn lửa của hai em bé Vân Kiều trong gầm sàn nhà hát trung tâm Đông Hà đêm ấy không bao giờ tôi quên. Và cái hốc tối ấy, nó chính là hang động xưa kia của loài người. Hai đứa bé hôm ấy hình như không được no lắm. Ánh đèn cao áp đường Hùng Vương hắt vào, cộng với ánh lửa rừng hắt lên khuôn mặt hai đứa trẻ gầy gò, hoang sơ, nhưng tính cánh của chúng như tôi nhận thấy đã thành thị hoá, thậm chí, chúng tôi đã nghe chúng nói tục, chửi thề với nhau. Anh Y Thi đã có dự định sẽ thực hiện một bút ký văn học, hoặc là một phóng sự báo chí về hai nhân vật độc nhất vô nhị này, và tôi có ý chờ đợi, nhưng mãi đến bây giờ... tôi vẫn chờ... Y Thi dạo đó đang học lớp đối tượng Đảng, mà theo anh nói, là lần thứ mười chín. Thế nên, khi tập "Non Mai sông Hãn" ra đời, tôi thấy Ban biên tập sách giới thiệu thật trân trọng, anh là một đảng viên cộng sản. Một danh hiệu thật đáng quý, đáng để ghi vào tiểu sử của một con người hoạt động trong lĩnh vực văn học nghệ thuật. Dạo đó gia đình Y Thi phải ở nhờ phòng làm việc của cơ quan, cũng là một cái hốc tối. Cái hốc tối mà tôi biết cả Y Thi và chị Tuyết vợ anh đã quẫy vượt, bùng thoát ra không chỉ vì giới hạn không gian. Một sự thôi thúc không đơn giản là sự dịch chuyển cơ học... Tôi chỉ biết đến thế thôi, rồi nghĩ kỹ thì hai đứa bé Vân Kiều nọ dù vô thức đi chăng nữa thì chúng bây giờ đã không còn ở chỗ cũ, chúng ở đâu, làm gì đi nữa thì cũng đã thoát ra khỏi cái hốc tối của mình, cái hốc tối nghĩa đen ven tường nhà hát trung tâm mà từng có những đêm đêm vẫn hắt lên ánh lửa rừng hoang sơ, nhảy múa trên những đám rêu xanh rì và ẩm thấp...
Y Thi vừa qua một cơn tưởng là bạo bệnh, may thay, đó chỉ là một cái u lành. Thật chẳng biết được điều chi đang chờ ta phía trước? Nói dại, giả thử nó không phải là cái u lành thì sự thể thế nào, anh Y Thi nhỉ? Sẽ qua sông hay không thể qua sông? Mà rốt cuộc, bao giờ cũng phải bước qua thôi, bằng tất cả mọi thứ, duy có điều có mang theo được những gì ta quý giá không thôi, và có được cái kiêu hãnh của con người không thôi, anh Y Thi nhỉ? Như một người làm thơ tên là Phương Xích Lô ấy... Tôi đã gặp Xích Lô một lần khi xưa, cũng chính trong cái hốc tối nhà Y Thi, khi đã đọc của Xích Lô rất nhiều thơ, hôm ấy lại được nghe chính Xích Lô mặc áo bà ba nâu gụ, chân đi dép tông vàng đọc rất nhiều thơ nữa... Cái đọng lại trong tôi, không chỉ là thơ, mà là hình ảnh một con người làm thơ đến khờ dại. Và rốt cuộc Phương Xích Lô đã nghiệm ra và gửi lại đời cái dự cảm định mệnh không thể khác cuối cùng:"...

ngồi trong thị xã Đông Hà
nghe bao kỷ ảnh
la đà đâu đây
bạn bè mấy đứa còn ai?
Đứa nằm trong đất
Đứa bay về trời
Khi không
Thấy cảnh nhớ người
Thắp hương tưởng niệm
Một thời khói sương".
          (Tưởng Niệm - Nguyễn Văn Phương) 
Xích Lô mang theo được gì ở thời khói sương này, không ai biết được. Không nhất thiết thời đó đã phải xảy ra, mà có thể nó đang lẩn quất đâu đó, kèm theo một cơn đau dập vùi. Phương Xích Lô là người Huế, hay đó là khói sương màu tím sông Hương, mà có lần trong một bài thơ, Phương Xích Lô đã tự ví mình chỉ là một hạt nước, khi dừng xích lô giữa cầu Trường Tiền soi mặt mình trong Hương giang? Không ai biết được! Rốt cuộc lại, mọi lý giải về một con người, đều chỉ là dự đoán, và cực kỳ bí ẩn. Xích Lô và nhiều người nữa, như Bùi Giáng tài danh cũng làm thơ đến dại đến khờ mà Hoàng Phủ kể chuyện, hoá ra, đỡ đầu cho nỗi cô đơn của thi sỹ lại là một bàn tay con gái, suy rộng ra chính là bè bạn: 
"Tôi gửi lại đây mấy dòng ảo não
Mấy vần thơ tuyệt vọng gửi cho em
Rồi gục đầu trên trang giấy hão
Em bảo rằng:
Đừng tuyệt vọng nghe không?
Còn mãi đây,
Trang thơ thắm lại với đời hồng".
                             (Phụng Hiến - Bùi Giáng) 
Tôi tin chắc rằng, cả Xích Lô cùng khổ và Bùi Giáng tài danh đều múa bút một hơi dài hết khổ tuyệt bút, cho trút hết nỗi dằn vặt cuối cùng đời thi sỹ, trong đêm mất ngủ và buồn bã cuối cùng, rồi ngày mai, gác bút, thản nhiên chạy vào nơi người ta gọi là cõi chết?

 Đăng ngày 11/10/2008

Nhận xét

Chia sẻ cho bạn bè

Bài viết liên quan